|
Công nghệ sinh học hiện đại đưa đến cho con người nhiều lợi ích đồng thời cũng đặt ra nhiều nghi ngờ. Vấn đề đặt ra là phải phát triển và ứng dụng nó để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của con người đồng thời có biện pháp phòng tránh những tác hại xâu cho con người và môi trường
Quan điểm này đã được của các nhà lãnh đạo trên thế giới,thống nhất , thể hiện tại Chương trình hành động 21 (AGENDA 21) ( Chương trình hành động 21: Một kế hoạch hành động chi tiết cho phát triển bền vững toàn cầu của thế kỷ 21) thông qua vào năm 1992 tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường và phát triển ở Rio de Janeiro , Brazil (United Nations Conference on Environment & Development Rio de Janerio, Brazil, 3 to 14 June 1992) Chương trình hành động 21 thường viết tắt là AC 21 đã phản ánh sự đồng tâm nhất trí mang tính toàn cầu và sự cam kết chính trị ở cấp cao nhất của các nước trên thế giới về sự hợp tác về môi trường và phát triển, giải quyết cả các vấn đề đang căng thẳng của ngày hôm nay và cả các nhu cầu cần chuẩn bị cho những thách thức của thế kỷ tiếp theo. Chương trình hành động 21 có 4 phần 40 chương, trong đó dành hẳn một chương, (chương 16) nói về quan điểm phát triển công nghệ sinh học gắn với việc quản lý bảo vệ sự lành mạnh của môi trường ( Environmentally sound management of biotechnology )
Điều 16 của chương trình hành động nói về công nghệ sinh học đã ghi rõ:
Công nghệ sinh học sử dụng các kiến thức truyền thống và công nghệ hiện đại nhằm làm thay đổi vật chất gien trong thực vật, động vật và vi sinh vật và tạo ra các sản phẩm mới. Công nghệ sinh học hứa hẹn là một đóng góp quan trọng cho một nền y tế tốt hơn, sản xuất lương thực thực phẩm cao hơn, công tác tái trồng rừng tốt hơn, các quá trình công nghiệp hiệu quả hơn, khử ô nhiễm cho nước và làm sạch các chất thải độc hại.
Công nghệ sinh học cần phải được phát triển nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân nhưng. Cần phải lưu ý rằng các kỹ thuật mới phải không được làm phá vỡ tính tổng hoà về môi trường hoặc làm tăng thêm các mối đe doạ cho sức khoẻ. Nhân dân phải nhận thức được những lợi ích và những rủi ro của công nghệ sinh học. Ðó là một nhu cầu đòi hỏi đối với những nguyên tắc đã được thoả thuận quốc tế về đánh giá rủi ro và quản lý mọi khía cạnh của công nghệ sinh học.
Thành công của các Chương trình công nghệ sinh học phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ khoa học được đào tạo cao. Cần phải làm giảm hiện tượng "chảy máu não" từ các nước đang phát triển bằng cách tạo lập các chương trình đào tạo về công nghệ tiên tiến nhằm đáp ứng các nhu cầu của khu vực và quốc gia. Các chương trình đó phải đem lại lợi ích từ các nguồn quỹ tạo sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển.
Tinh thần của điều 16 của AC21 đặt ra là:
- Phải phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, các sản phẩm của công nghệ sinh học hiện đại cần phải được sử dụng và lưu thông trên thị trường thế giới
- Phải có các những biện pháp thích hợp để quản lý mọi khía cạnh của công nghệ sinh học khai thác lợi ích phòng tránh rủi ro tránh được những tổn hại đến môi trường và sức khỏe của con người
- Phải có sự hỗ trợ để các nước chậm phát triển có sư tiến bộ và kỹ thuật bắt kịp nhu cầu cần có
- Nhân dân phải được nhận thức về những lợi ích và những rủi ro và tham gia vào việc xây dựng các chính sách, các văn bản pháp luật
Để thực hiện tinh thần trên, khai thác những lợi ich của công nghệ sinh học hiện đại đồng thời phòng tránh rủi ro tác động đến môi trường và sức khỏe, đặt ra cho các quốc gia trong khi phát triển Công nghệ sinh học phải làm rõ 3 vấn đề sau:
a/ Nhận rõ những rủi ro những bất trắc và những điểm còn nghi ngờ trong việc sử dụng sản phẩm biến đổi Gen (GMOs);
b/ Nhận rõ tiềm năng lợi ích và những vấn đề phải đối mặt.
c/ Xây dựng những điều kiện để nhận biết được những tiềm năng, và tránh những rủi ro trong phát triển công nghệ sinh học hiện đại trong nông nghiệp và thực phẩm
Có nhiều biện pháp và chính sách được thực thi trên quy mô toàn cầu và từng quốc gia để đảm bảo các yêu cầu trên. Trong đó, việc xây dựng một khung pháp lý trên quy mô toàn cầu và ở từng quốc gia là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo đảm sự phát triển lành mạnh công nghệ sinh học.
|