|
Cuối tháng 3 vừa qua, ấn Độ đã đưa ra Dự thảo Chiến lược phát triển công nghệ sinh học cho mười năm tới, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc nới lỏng cơ chế luật pháp, tăng cường giáo dục và đào tạo về công nghệ sinh học. Chiến lược này có thể giúp ngành công nghiệp công nghệ sinh học ấn Độ thu được lợi nhuận 5 tỷ USD mỗi năm và tạo ra 1 triệu việc làm vào năm 2010. Điểm quan trọng của dự thảo chiến lược này là đề xuất thành lập Cơ quan Quản lý Luật pháp về Công nghệ sinh học Quốc gia để thông qua các sản phẩm công nghệ sinh học. Cho đến nay, nhiệm vụ này do uỷ ban Phê chuẩn Công nghệ Di truyền học thuộc Bộ Môi trường và Lâm nghiệp đảm nhiệm. Cơ quan luật pháp mới có thể chia thành ba ban về ba lĩnh vực: 1. Các sản phẩm nông nghiệp và cây trồng biến đổi gen; 2. Các sản phẩm dược và công nghiệp dược phẩm; 3. thực phẩm biến đổi gen, nuôi dưỡng và chăn nuôi động vật. Chiến lược nhấn mạnh sự cần thiết phải hợp lý hoá hệ thống các hướng dẫn và thủ tục thông qua các sản phẩm dược theo kỹ thuật di truyền và cho rằng quy trình thông qua hiện nay quá phức tạp gồm nhiều bộ và nhiều người tham gia, nhưng lại thiếu sự điều phối. Bên cạnh việc làm minh bạch các cơ chế luật pháp, chiến lược có thể chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực gồm sinh viên, các nhà nghiên cứu, giáo viên, kỹ thuật viên chuyên sâu về công nghệ sinh học. Chính phủ sẽ thành lập lực lượng chuyên trách của quốc gia về giáo dục và đào tạo nhằm thúc đẩy các khoá học đại học và sau đại học về khoa học sự sống, cung cấp các học bổng đặc biệt và tăng số lượng sinh viên theo học bậc tiến sĩ từ 50 đến 200, tăng cơ hội tiếp xúc cho sinh viên với các ngành công nghiệp và tổ chức nghiên cứu. Ngoài ra, sẽ thành lập các trung tâm mới xuất sắc về công nghệ sinh học thực phẩm, thảo dược, y học phân tử, vật liệu và thiết bị sinh học cùng với tin sinh học. Giới thiệu Dự thảo chiến lược Công nghệ sinh học được ghi nhận trên toàn cầu là một công nghệ nổi lên nhanh chóng và đạt được những thành tựu đáng kể. Công nghệ sinh học còn được gọi tên một cách thích hợp là “công nghệ cho hy vọng” vì những hứa hẹn của công nghệ sinh học đối với thực phẩm, sức khoẻ và tính bền vững về mặt môi trường. Những tiến bộ mới đây và liên tục về khoa học sự sống đã mở ra một kịch bản được tiếp sức và chi phối bởi các công cụ mới của công nghệ sinh học. Trên thị trường xuất hiện rất nhiều loại dược phẩm và vacxin điều trị với giá trị ước tính 40 tỷ USD và mang lại lợi ích cho hơn 100 triệu người trên toàn thế giới. Còn trong lĩnh vực y tế, có tới hàng trăm các phát triển, ngoài ra còn có số lượng lớn các sản phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp và công nghiệp thực sự giúp ích cho loài người. Ngành công nghệ sinh học của ấn Độ đã có một tầm nhìn mang tính toàn cầu và đang tìm kiếm những cơ hội đầu tư mới. Nguồn nhân lực được xem là động lực chủ yếu để tạo nên tính cạnh tranh toàn cầu. Ngoài ra, mong muốn giảm nguồn vốn rủi ro ở các nước phát triển đã dẫn đến hạn chế phát triển lĩnh vực công nghệ sinh học tại các nước này, trong khi các môi trường nghiên cứu chi thấp hơn ở thế giới đang phát triển như ấn Độ Với ấn Độ, công nghệ sinh học là công nghệ đủ mạnh có thể tạo ra cuộc cách mạng trong nông nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, chế biến công nghiệp và bền vững về môi trường. Ngành công nghệ sinh học ấn Độ trong hai thập kỷ qua đã được định hình thông qua các sáng kiến rải rác và không thường xuyên. Bây giờ chính là thời điểm tổng hơp các nỗ lực này, nhờ vào chiến lược phát triển công nghệ sinh học có tính thực tế. Điều cấp thiết là các “kiến trúc sư” của ngành công nghiệp này cùng với các bên liên quan giữ vai trò phối hợp trong việc đưa ra một chiến lược nhằm đảm bảo chúng ta không chỉ dựa trên nền tảng hiện có mà còn mở rộng ềnn tảng này để chiếm vi trí lãnh đạo toàn cầu trong lĩnh vực công nghệ sinh học bằng cách tận dụng mọi tiềm năng mà ấn Độ có thể cung cấp. Vì sao công nghệ sinh học lại có ý nghĩa quan trọng đối với ấn Độ. Công nghệ sinh học có thể tạo ra một làn sóng tiếp theo về thay đổi công nghệ, triệt để và mang tínhlan toả hơn so với công nghệ thông tin. Tạo việc làm, mang lại sự lành mạnh về trí tuệ, mở rộng các cơ hội kinh doanh. Thúc đẩy phát triển công nghiệp chỉ là vài trong số yếu tố cạnh tranh được đảm bảo cho cách tiếp cận có trọng tâm của lĩnh vực này. Triển vọng và nhiệm vụ Đối với ấn Độ, công nghệ sinh học là một phần của hoạt động thương mại có tiềm năng tạo ra tổng lợi nhuận 5 tỷ USD, 1 triệu việc làm vào năm 2010 thông qua các sản phẩm và dịch vụ công nghệ sinh học. Các yếu tố này có thể đẩy ấn Độ lên vị trí đáng kể trên thị trường công nghệ sinh học toàn cầu. Chỉ riêng dược phẩm sinh học đã có thị trường tiềm năng trị giá 2 tỷ USD, chủ yếu do các vacxin và các giống sinh học. Các dịch vụ phát triển y tế có thể tạo ra hơn 1,5 tỷ USD, trong khi các dịch vụ sinh học và dịch vụ nghiên cứu khác có thể mang lại 1 tỷ USD trong thời điểm này. Công nghệ sinh học nông nghiệp và công nghiệp cũng góp một phần tương đương 500 triệu USD. ấn Độ còn có vốn quý là đội ngũ mạnh các nhà khoa học và kỹ sư, mạng lưới nghiên cứu lớn mạnh và quy trình sản xuất chi phí hiệu quả. Hơn nữa, nước này còn có hơn 100 phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc gia sử dụng hơn hàng trăm nhà khoa học. Hơn 300 trường đại học và viên nghiên cứu trên toàn đất nước đào tạo văn bằng về công nghệ sinh học, tin sinh học và hoá học về sinh học, với gần 500.000 sinh viên tốt nghiệp hàng năm. Hơn 100 trường đại học y và gần 17.000 thực tập sinh về y học mỗi năm. Khoảng 300.000 sinh viên sau đại học và 1.500 tiến sĩ có khả năng về sinh học và công nghệ. Đây là các nguồn lực cần phải được sử dụng một cách hiệu quả, cùng đấu tranh và hiệu lực để tạo ra một ngành kinh doanh có năng suất. ấn Độ được ghi nhận là nước có đa dạng về sinh học cao, công nghệ sinh học đã mang lại những cơ hội để biến nguồn tài nguyên sinh học thành của cải có lợi về kinh tế và các cơ hội về việc làm. Các sản phẩm và các dịch vụ mới khai thác từ các nguồn tài nguyên tái tạo đã tạo ra hiệu suất cao cho các quy trình công nghiệp, ngăn cản suy thoái môi trường và tạo ra một nền kinh tế dựa vào sinh học nhiều hơn. Nền nông nghiệp ấn Độ đang phải đối mới với những thách thức to lớn nhằm tạo ra được nhiều mặt hàng nông nghiệp cho dân số cũng như số lượng vật nuôi ngày càng nhiều hơn, trong khi tỷ lệ đất canh tác và tài nguyên nước tính theo đầu người đang giảm xuống. Công nghệ sinh học có tiềm năng để giải quyết thách thức này, nhằm đảm bảo an toà sinh kế cho 110 triệu gia định nông dân của ấn Độ. Tiến bộ của công nghệ sinh học được xem là ngành công nghiệp thành công đã giải quyết được nhiều thách thức liên quan đến nghiên cứu và phát triển, tạo vốn đầu tư, chuyển giao và áp dụng công nghệ, cấp patent và sử hữu trí tuệ, có đủ khả năng giải quyết các vấn đề về giá, luật pháp và được người dân tin cậy. Quan trọng nhất là hai nhân tố gồm có đủ khả năng và có thể tạo ra các sản phẩm công nghệ sinh học. Các chính sách thúc tạo ra sự cân bằng giữa duy trì quá trình đổi mới và tạo điều kiện cho phổ biến công nghệ cũng cần được xây dựng. Một vài mối quan tâm về xã hội cần được giải quyết để thúc đẩy đổi mới công nghệ sinh học ở đất nước này như bảo tồn tài nguyên sinh học và đảm bảo tính an toàn của các sản phẩm và quy trình sinh học. Chính phủ và ngành công nghệ phải cùng nhau thúc đẩy các lợi ích của công nghệ sinh học hiện đại, trong khi vẫn giáo dụcv à bảo vệ các lợi ích của cộng đồng. Sử dụng khôn ngoan các công nghệ mới có thể đòi hỏi phải thể hiện rõ cho tất cả những bên liên quan thấy được các giá trị mới. Chính sách Quốc gia về Khoa học và Công nghệ của chính phủ ấn Độ và Tuyên bố tầm nhìn về Công nghệ sinh học do Vụ công nghệ sinh học ban hành đã ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực nhà nước và tư nhân nhằm thúc đẩy khoa học về sự sống và công nghệ sinh học. Tuy nhiên, ấn Độ cũng đã có những tiến bộ đáng kể về hỗ trợ R&D, tạo nguồn nhân lực và phát triển cơ sở hạ tầng trong thập kỷ qua, với việc áp dụng cơ chế patent cho sản phẩm, cần nhanh chóng đạt được mức độ đổi mới cao hơn để đạt được khả năng cạnh tranh toàn cầu. Thách thức hiện nay là làm sao liên kết được liên minh toàn cầu về công nghệ sinh học. Điều này đòi hỏi cần có những đầu tư lớn và việc phân cấp chức năng hợp lý theo hướng đổi mới. Nắm bắt các cơ hội mới và những lợi ích tiềm tàng về kinh tế, môi trường, sức khoẻ, xã hội sẽ là thách thức cho chính sách quản lý của chính phủ, nhận thức của công chúng, cơ sở khung giáo dục, khoa học, công nghệ, pháp luật và thể chế. Vấn đề tiếp cận mới các sản phẩm sinh ra từ nghiên cứu công nghệ sinh học, cả trong nông nghiệp và y học đều có ý nghĩa hết sức quan trọng. Do vậy, cần hỗ trợ hợp lý cho nghiên cứu có lợi cho cộng đồng nhằm với tới sức mạnh của công nghệ sinh học. Cả nghiên cứu có lợi cho cộng đồng và nghiên cứu vì lợi ích phải được tăng cường. Các tổ chức nhà nước và ngành công nghiệp đều có vai trò quan trọng trong quá trình này. Chiến lược quốc gia về Phát triển Công nghệ sinh học sử dụng nguồn vốn có sẵn và đưa ra cơ sở khung cho tương lai trong đó quy định các chiến lược và các hành động cụ thể có thể được sử dụng nhằm thúc đẩy công nghệ sinh học. Khung chính sách này là kết quả tư vấn cảu nhiều bên liên quan, gồm các nhà khoa học, giáo dục, luật pháp, đại diện các hiệp hội và nhiều nhóm khác, cùng thể hiện sự nhất trí của họ. Khung chính sách này tập trung vào các vấn đề liên ngành, như phát triển nhân lực, công nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng, phòng thí nghiệm, sản xuất, thúc đẩy công nghiệp và thương mại, khu công nghiệp công nghệ sinh học, vườn ươm công nghệ sinh học, cơ chế luật pháp, giáo dục cộng đồng và nâng cao nhận thức. Chính sách còn nhằm đề ra một kế hoạch phát triển cho mỗi lĩnh vực, như công nghệ sinh học trong nông nghiệp và thực phẩm, công nghiệp, điều trị và y tế, tái tạo, di truyền và chẩn đoán, kỹ thuật sinh học, công nghệ sinh học nanô, tin - sinh học và có thể cả công nghệ thông tin, sản xuất và quy trình sinh học, dịch vụ nghiên cứu, các nguồn tài nguyên sinh học, luật môi trường, luật sở hữu trí tuệ và patent. Chính quyền một số bang của ấn Độ đã đưa ra chính sách công nghệ sinh học trong đó đặt kế hoạch tổng thể cho lĩnh vực công nghệ này. Do vậy, cần thận trọng khi đưa và chiến lược Quốc gia về Phát triển Công nghệ sinh học đặt ra lộ trình 10 năm phát triển lồng ghép với các định hướng và có mục đích rõ ràng. Đây cũng chính là thời điểm dut cho các công nghệ mũi nhọn như công nghệ sinh học. Các chiến lược thông suốt rõ ràng do các bên liên quan đưa ra sẽ xác định hướng và hành động có thể nhằm khai thác hết tiềm năng của lĩnh vực công nghệ này vì phúc lợi xã hội và kinh tế của đất nước. (Theo SciDev. Net và Tạp chí Khoa học - Công nghệ - Môi trường, số 4/ 2005)
|